Chứng từ kế toán ra đời là kết quả của thời kỳ phát triển của kế toán. bên cạnh đó vào quá trình La Mã cổ đại tới cuối thế kỷ 19, trong pháp luật thương nghiệp của các nước vẫn chưa thấy xuất hiện khái niệm chứng từ kế toán. Ngay cả ở Ý, nơi nảy sinh ra kế toán kép, nhưng trong tác phẩm của Luca Paciolo cũng không kể tới khái niệm này, mà hình như khái niệm chứng từ kế toán được pha trộn trong khái niệm về sổ sách kế toán. Theo Nguyễn Việt & Võ Văn Nhị (2006), I.F. Ser, Thuỵ Sĩ, S.M. Baras, Nga, Pali chính là các nhà nghiên cứu trước nhất nhận thức được sự khác nhau giữa chứng từ & sổ sách kế toán. Điều này được nói trong tác phẩm của ông  tựa đề « Kế toán  cân đối » theo chậm triển khai chứng từ là hạ tầng của kế toán, về bản tính việc ghi sổ sách bao gồm việc tiến hành giải quyết chứng trong khoảng theo thời kì & theo hệ thống. Chứng trong khoảng chính là tài liệu để ghi chép sổ sách kế toán, là bằng chứng chứng minh trong kế toán. Chính sự phức tạp của những mối quan hệ kinh tế, sự mở mang của đơn vị, sự phát triển của các cách  khoa học đo lường, tính toán, biên chép đã phân chia thành chứng trong khoảng  sổ sách kế toán.

Trên hiện giờ, mọi số liệu ghi chép vào những chiếc sổ sách kế toán khác nhau cần  cơ sở bảo đảm tính luật phápcác số liệu chậm triển khai thiết yếu sự xác minh tính hợp pháp, hợp thức duyệt y các cách thức được căn nhà nước qui định cụ thể hoặc  thuộc tính đề nghị hoặc với thuộc tính hướng dẫncác cách thức này chính là các mẫu chứng trong khoảng được những doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động của mình.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *